Tác giả:

Mặc dù hoạt động thăm dò ‘Thánh Địa Vùi Thây’ đã bị công khai cấm cản từ năm 1940, nhưng vẫn luôn có vài kẻ không sợ chết liều mạng tiến tới. Lý do thứ yếu tất nhiên là vì tiền. Từ giữa đến cuối thế kỷ 20 chiến tranh liên miên, xung đột chưa từng ngừng nghỉ, chính cuộc sống vô cùng tuyệt vọng đã tạo nên những kẻ dám dấn thân vào nơi không có đường về đấy. Giữa năm 1941 khi một Thánh Địa Vùi Thây xuất hiện ở gần biên giới Tây Nam Việt Nam, tất cả đàn ông trưởng thành họ hàng bên nội nhà tôi đã theo một nhóm buôn lậu đến từ Hồng Kông với khoảng 40 thành viên tiến vào bên trong. Bất ngờ ở chỗ họ đã có thể trở ra ngoài, hơn nữa là trở đi trở vào tận ba lần. Mỗi lần số người vơi hơn phân nửa, đến lần cuối cùng chỉ còn bốn người. Em trai út của ông nội tôi là người Việt duy nhất còn sống. Sau đó ông trẻ dùng một phần số tiền kiếm được đưa cả nhà di cư sang Hồng Kông, một phần hỗ trợ phong trào kháng chiến ở quê nhà Việt Nam. Tôi được biết ông trẻ là người rất yêu nước, đến tận lúc chết ông…

Chương 34

Thánh Địa Vùi ThâyTác giả: Linh Lưu LyTruyện Đô Thị, Truyện Trinh ThámMặc dù hoạt động thăm dò ‘Thánh Địa Vùi Thây’ đã bị công khai cấm cản từ năm 1940, nhưng vẫn luôn có vài kẻ không sợ chết liều mạng tiến tới. Lý do thứ yếu tất nhiên là vì tiền. Từ giữa đến cuối thế kỷ 20 chiến tranh liên miên, xung đột chưa từng ngừng nghỉ, chính cuộc sống vô cùng tuyệt vọng đã tạo nên những kẻ dám dấn thân vào nơi không có đường về đấy. Giữa năm 1941 khi một Thánh Địa Vùi Thây xuất hiện ở gần biên giới Tây Nam Việt Nam, tất cả đàn ông trưởng thành họ hàng bên nội nhà tôi đã theo một nhóm buôn lậu đến từ Hồng Kông với khoảng 40 thành viên tiến vào bên trong. Bất ngờ ở chỗ họ đã có thể trở ra ngoài, hơn nữa là trở đi trở vào tận ba lần. Mỗi lần số người vơi hơn phân nửa, đến lần cuối cùng chỉ còn bốn người. Em trai út của ông nội tôi là người Việt duy nhất còn sống. Sau đó ông trẻ dùng một phần số tiền kiếm được đưa cả nhà di cư sang Hồng Kông, một phần hỗ trợ phong trào kháng chiến ở quê nhà Việt Nam. Tôi được biết ông trẻ là người rất yêu nước, đến tận lúc chết ông… Bà Diêu gọi người đem hộp cứu thương đến, rồi thích thú tự mình đổ đầy thuốc sát trùng lên tay tôi. Bẩn thì chê mà tra tấn người thì mẹ nó vui quên lối về, mấy bác trong nghề này bệnh hết cả lũ rồi.Tôi bất chấp sĩ diện la oai oái, khổ sở thất vọng gì đó đều bị vứt lên chín tầng mây.Bà Diêu lau tay, để phần việc còn lại cho người làm, có vẻ như biểu hiện của tôi khiến bà bác bệnh này tương đối hài lòng, nên rủ lòng tốt giải thích một số vấn đề.“Chắc bà nội cậu đã kể về lịch sử quan hệ giữa ba nhà Lâm Diêu Nguyễn phải không?”Tôi gật đầu, bà Diêu nhẩn nha tiếp tục.“Nhà Diêu không giống hai nhà Lâm Nguyễn, không phải đường ngang ngõ tắt đá sang, mà là một gia tộc có truyền thống ‘hành hương’ từ thời Khang Hi. Theo gia phả, tôi là gia chủ đời thứ tám.”Bà Diêu dùng khá nhiều tiếng lóng tôi không hiểu, sau đó phải nhờ thằng Nam phổ cập lại, đại thể như sau.Thánh Địa Vùi Thây là một một danh từ mới được đặt vào những năm đầu thế kỷ 20, khi người phương tây hiện đại bắt đầu khám phá ra hiện tượng kiến tạo địa chất không thể lý giải này. Thực tế đây không phải công trình khám phá mới mẻ, chỉ là sự xuất hiện của Thánh Địa Vùi Thây rất rời rạc trong lịch sử, và thường tập trung ở Nam Á, Đông Á và một số vùng ở Châu Phi.Trong ghi chép gia tộc, cụ tổ của Bà Diêu sống ở thời Khang Hi đã gọi những nơi ăn thịt người này là “Ổ Rồng”, lối vào là Miệng Rồng, đường đi là Ruột Rồng, khu có báu vật là Bụng Rồng, khu nguy hiểm là Vuốt Rồng, khu chắc chắn bỏ mạng là Đầm Rồng. Kẻ dám đi vào Ổ Rồng tự coi mình đang trên đường “hành hương”.Cách gọi này được lưu truyền rất lâu, hơn nữa còn khá tương thích với danh xưng Thánh Địa Vùi Thây bây giờ, bởi vậy được dùng làm từ ngữ nhận diện giữa những người trong nghề.Gia chủ đời trước nhà họ Diêu là chú của bà, người này không để lại hậu duệ, quan hệ với các thành viên không thân thiết, hơn nữa dân hành hương hiếm ai sống thọ và chết ở nhà, vì thế việc ông chú bỏ mạng trong Thánh Địa Vùi Thây chưa từng làm bà Diêu quan tâm.Nhưng rồi vào một ngày mười ba năm trước, có người cháu họ của ông Lâm đem một tờ giấy đến nhờ bà Diêu cùng giải mã, mở ra bí mật về cái chết bất thường của gia chủ đời thứ bảy.“Một cậu trai khá.” Bà Diêu nhận xét, thái độ hoài niệm đầy hữu hảo khác hẳn khi trò chuyện cùng ông Lâm.“Đáng tiếc tuổi xuân chết sớm, không thì Lâm Cẩu Cẩu đừng hòng ngồi cùng chiếu với tôi.”Tôi thầm đoán hẳn vế sau mới là mấu chốt trong cả đoạn.Mật mã cậu trai khá mang đến được cải biên từ hán ngữ cổ, không khó đọc nhưng lại kén người có thể đọc. Như ông trẻ ít văn hóa của tôi thì chắc chắn không thể hiểu được. Vậy nên sau khi chết mới dặn dò bố tôi mang vật quy nguyên chủ.Tờ giấy nằm lẫn trong rất nhiều giấy tờ quan trọng khác của nhà họ Lâm mà ông trẻ tôi ‘giữ hộ’ suốt hồi còn sống, kể như sổ đỏ sổ hồng, giấy sở hữu xí nghiệp, trước mặt mấy quyển sổ vàng kim nọ, tờ giấy nhàu nhĩ vài dòng xiên vẹo trở nên không hề thu hút.Người duy nhất quan tâm chỉ có con trai ông ta, cậu trai khá. Về sau khi lớn rồi hiểu biết nhiều rồi, mới lục tìm di sản của bố, đòi lại công lý muộn.“Nội dung rất đơn giản, ta sẽ viết nguyên văn cho cậu.”Bà Diêu lấy giấy bút, ghi ngắn gọn như sau:“Đại hung. Tìm Nguyễn Hữu lấy di sản. Chết không thể tránh. Oan uổng anh Diêu, oan uổng tôi.”Hai từ oan uổng kéo dài, vô cùng thê lương, khiến tôi cảm thấy có chút co quắp khi đứng trước bà Diêu. Nhưng bà ta không hề để ý, chuyển tờ giấy mới nói tiếp:“Trên giấy còn có một hình vẽ, là vật gia chủ cũ của họ Lâm muốn đòi lại.”Bà Diêu phác họa rất khá, chỉ vài đường nét, tôi đã biết đấy là vật gì.Nhưng thứ này…. sao có thể là nó chứ?

Bà Diêu gọi người đem hộp cứu thương đến, rồi thích thú tự mình đổ đầy thuốc sát trùng lên tay tôi. Bẩn thì chê mà tra tấn người thì mẹ nó vui quên lối về, mấy bác trong nghề này bệnh hết cả lũ rồi.

Tôi bất chấp sĩ diện la oai oái, khổ sở thất vọng gì đó đều bị vứt lên chín tầng mây.

Bà Diêu lau tay, để phần việc còn lại cho người làm, có vẻ như biểu hiện của tôi khiến bà bác bệnh này tương đối hài lòng, nên rủ lòng tốt giải thích một số vấn đề.

“Chắc bà nội cậu đã kể về lịch sử quan hệ giữa ba nhà Lâm Diêu Nguyễn phải không?”

Tôi gật đầu, bà Diêu nhẩn nha tiếp tục.

“Nhà Diêu không giống hai nhà Lâm Nguyễn, không phải đường ngang ngõ tắt đá sang, mà là một gia tộc có truyền thống ‘hành hương’ từ thời Khang Hi. Theo gia phả, tôi là gia chủ đời thứ tám.”

Bà Diêu dùng khá nhiều tiếng lóng tôi không hiểu, sau đó phải nhờ thằng Nam phổ cập lại, đại thể như sau.

Thánh Địa Vùi Thây là một một danh từ mới được đặt vào những năm đầu thế kỷ 20, khi người phương tây hiện đại bắt đầu khám phá ra hiện tượng kiến tạo địa chất không thể lý giải này. Thực tế đây không phải công trình khám phá mới mẻ, chỉ là sự xuất hiện của Thánh Địa Vùi Thây rất rời rạc trong lịch sử, và thường tập trung ở Nam Á, Đông Á và một số vùng ở Châu Phi.

Trong ghi chép gia tộc, cụ tổ của Bà Diêu sống ở thời Khang Hi đã gọi những nơi ăn thịt người này là “Ổ Rồng”, lối vào là Miệng Rồng, đường đi là Ruột Rồng, khu có báu vật là Bụng Rồng, khu nguy hiểm là Vuốt Rồng, khu chắc chắn bỏ mạng là Đầm Rồng. Kẻ dám đi vào Ổ Rồng tự coi mình đang trên đường “hành hương”.

Cách gọi này được lưu truyền rất lâu, hơn nữa còn khá tương thích với danh xưng Thánh Địa Vùi Thây bây giờ, bởi vậy được dùng làm từ ngữ nhận diện giữa những người trong nghề.

Gia chủ đời trước nhà họ Diêu là chú của bà, người này không để lại hậu duệ, quan hệ với các thành viên không thân thiết, hơn nữa dân hành hương hiếm ai sống thọ và chết ở nhà, vì thế việc ông chú bỏ mạng trong Thánh Địa Vùi Thây chưa từng làm bà Diêu quan tâm.

Nhưng rồi vào một ngày mười ba năm trước, có người cháu họ của ông Lâm đem một tờ giấy đến nhờ bà Diêu cùng giải mã, mở ra bí mật về cái chết bất thường của gia chủ đời thứ bảy.

“Một cậu trai khá.” Bà Diêu nhận xét, thái độ hoài niệm đầy hữu hảo khác hẳn khi trò chuyện cùng ông Lâm.

“Đáng tiếc tuổi xuân chết sớm, không thì Lâm Cẩu Cẩu đừng hòng ngồi cùng chiếu với tôi.”

Tôi thầm đoán hẳn vế sau mới là mấu chốt trong cả đoạn.

Mật mã cậu trai khá mang đến được cải biên từ hán ngữ cổ, không khó đọc nhưng lại kén người có thể đọc. Như ông trẻ ít văn hóa của tôi thì chắc chắn không thể hiểu được. Vậy nên sau khi chết mới dặn dò bố tôi mang vật quy nguyên chủ.

Tờ giấy nằm lẫn trong rất nhiều giấy tờ quan trọng khác của nhà họ Lâm mà ông trẻ tôi ‘giữ hộ’ suốt hồi còn sống, kể như sổ đỏ sổ hồng, giấy sở hữu xí nghiệp, trước mặt mấy quyển sổ vàng kim nọ, tờ giấy nhàu nhĩ vài dòng xiên vẹo trở nên không hề thu hút.

Người duy nhất quan tâm chỉ có con trai ông ta, cậu trai khá. Về sau khi lớn rồi hiểu biết nhiều rồi, mới lục tìm di sản của bố, đòi lại công lý muộn.

“Nội dung rất đơn giản, ta sẽ viết nguyên văn cho cậu.”

Bà Diêu lấy giấy bút, ghi ngắn gọn như sau:

“Đại hung. Tìm Nguyễn Hữu lấy di sản. Chết không thể tránh. Oan uổng anh Diêu, oan uổng tôi.”

Hai từ oan uổng kéo dài, vô cùng thê lương, khiến tôi cảm thấy có chút co quắp khi đứng trước bà Diêu. Nhưng bà ta không hề để ý, chuyển tờ giấy mới nói tiếp:

“Trên giấy còn có một hình vẽ, là vật gia chủ cũ của họ Lâm muốn đòi lại.”

Bà Diêu phác họa rất khá, chỉ vài đường nét, tôi đã biết đấy là vật gì.

Nhưng thứ này…. sao có thể là nó chứ?

Thánh Địa Vùi ThâyTác giả: Linh Lưu LyTruyện Đô Thị, Truyện Trinh ThámMặc dù hoạt động thăm dò ‘Thánh Địa Vùi Thây’ đã bị công khai cấm cản từ năm 1940, nhưng vẫn luôn có vài kẻ không sợ chết liều mạng tiến tới. Lý do thứ yếu tất nhiên là vì tiền. Từ giữa đến cuối thế kỷ 20 chiến tranh liên miên, xung đột chưa từng ngừng nghỉ, chính cuộc sống vô cùng tuyệt vọng đã tạo nên những kẻ dám dấn thân vào nơi không có đường về đấy. Giữa năm 1941 khi một Thánh Địa Vùi Thây xuất hiện ở gần biên giới Tây Nam Việt Nam, tất cả đàn ông trưởng thành họ hàng bên nội nhà tôi đã theo một nhóm buôn lậu đến từ Hồng Kông với khoảng 40 thành viên tiến vào bên trong. Bất ngờ ở chỗ họ đã có thể trở ra ngoài, hơn nữa là trở đi trở vào tận ba lần. Mỗi lần số người vơi hơn phân nửa, đến lần cuối cùng chỉ còn bốn người. Em trai út của ông nội tôi là người Việt duy nhất còn sống. Sau đó ông trẻ dùng một phần số tiền kiếm được đưa cả nhà di cư sang Hồng Kông, một phần hỗ trợ phong trào kháng chiến ở quê nhà Việt Nam. Tôi được biết ông trẻ là người rất yêu nước, đến tận lúc chết ông… Bà Diêu gọi người đem hộp cứu thương đến, rồi thích thú tự mình đổ đầy thuốc sát trùng lên tay tôi. Bẩn thì chê mà tra tấn người thì mẹ nó vui quên lối về, mấy bác trong nghề này bệnh hết cả lũ rồi.Tôi bất chấp sĩ diện la oai oái, khổ sở thất vọng gì đó đều bị vứt lên chín tầng mây.Bà Diêu lau tay, để phần việc còn lại cho người làm, có vẻ như biểu hiện của tôi khiến bà bác bệnh này tương đối hài lòng, nên rủ lòng tốt giải thích một số vấn đề.“Chắc bà nội cậu đã kể về lịch sử quan hệ giữa ba nhà Lâm Diêu Nguyễn phải không?”Tôi gật đầu, bà Diêu nhẩn nha tiếp tục.“Nhà Diêu không giống hai nhà Lâm Nguyễn, không phải đường ngang ngõ tắt đá sang, mà là một gia tộc có truyền thống ‘hành hương’ từ thời Khang Hi. Theo gia phả, tôi là gia chủ đời thứ tám.”Bà Diêu dùng khá nhiều tiếng lóng tôi không hiểu, sau đó phải nhờ thằng Nam phổ cập lại, đại thể như sau.Thánh Địa Vùi Thây là một một danh từ mới được đặt vào những năm đầu thế kỷ 20, khi người phương tây hiện đại bắt đầu khám phá ra hiện tượng kiến tạo địa chất không thể lý giải này. Thực tế đây không phải công trình khám phá mới mẻ, chỉ là sự xuất hiện của Thánh Địa Vùi Thây rất rời rạc trong lịch sử, và thường tập trung ở Nam Á, Đông Á và một số vùng ở Châu Phi.Trong ghi chép gia tộc, cụ tổ của Bà Diêu sống ở thời Khang Hi đã gọi những nơi ăn thịt người này là “Ổ Rồng”, lối vào là Miệng Rồng, đường đi là Ruột Rồng, khu có báu vật là Bụng Rồng, khu nguy hiểm là Vuốt Rồng, khu chắc chắn bỏ mạng là Đầm Rồng. Kẻ dám đi vào Ổ Rồng tự coi mình đang trên đường “hành hương”.Cách gọi này được lưu truyền rất lâu, hơn nữa còn khá tương thích với danh xưng Thánh Địa Vùi Thây bây giờ, bởi vậy được dùng làm từ ngữ nhận diện giữa những người trong nghề.Gia chủ đời trước nhà họ Diêu là chú của bà, người này không để lại hậu duệ, quan hệ với các thành viên không thân thiết, hơn nữa dân hành hương hiếm ai sống thọ và chết ở nhà, vì thế việc ông chú bỏ mạng trong Thánh Địa Vùi Thây chưa từng làm bà Diêu quan tâm.Nhưng rồi vào một ngày mười ba năm trước, có người cháu họ của ông Lâm đem một tờ giấy đến nhờ bà Diêu cùng giải mã, mở ra bí mật về cái chết bất thường của gia chủ đời thứ bảy.“Một cậu trai khá.” Bà Diêu nhận xét, thái độ hoài niệm đầy hữu hảo khác hẳn khi trò chuyện cùng ông Lâm.“Đáng tiếc tuổi xuân chết sớm, không thì Lâm Cẩu Cẩu đừng hòng ngồi cùng chiếu với tôi.”Tôi thầm đoán hẳn vế sau mới là mấu chốt trong cả đoạn.Mật mã cậu trai khá mang đến được cải biên từ hán ngữ cổ, không khó đọc nhưng lại kén người có thể đọc. Như ông trẻ ít văn hóa của tôi thì chắc chắn không thể hiểu được. Vậy nên sau khi chết mới dặn dò bố tôi mang vật quy nguyên chủ.Tờ giấy nằm lẫn trong rất nhiều giấy tờ quan trọng khác của nhà họ Lâm mà ông trẻ tôi ‘giữ hộ’ suốt hồi còn sống, kể như sổ đỏ sổ hồng, giấy sở hữu xí nghiệp, trước mặt mấy quyển sổ vàng kim nọ, tờ giấy nhàu nhĩ vài dòng xiên vẹo trở nên không hề thu hút.Người duy nhất quan tâm chỉ có con trai ông ta, cậu trai khá. Về sau khi lớn rồi hiểu biết nhiều rồi, mới lục tìm di sản của bố, đòi lại công lý muộn.“Nội dung rất đơn giản, ta sẽ viết nguyên văn cho cậu.”Bà Diêu lấy giấy bút, ghi ngắn gọn như sau:“Đại hung. Tìm Nguyễn Hữu lấy di sản. Chết không thể tránh. Oan uổng anh Diêu, oan uổng tôi.”Hai từ oan uổng kéo dài, vô cùng thê lương, khiến tôi cảm thấy có chút co quắp khi đứng trước bà Diêu. Nhưng bà ta không hề để ý, chuyển tờ giấy mới nói tiếp:“Trên giấy còn có một hình vẽ, là vật gia chủ cũ của họ Lâm muốn đòi lại.”Bà Diêu phác họa rất khá, chỉ vài đường nét, tôi đã biết đấy là vật gì.Nhưng thứ này…. sao có thể là nó chứ?

Chương 34