Toronto và Pondicherry Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống trở lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kỳ lạ. Tôi học chương trình phổ thông trung học trong một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai ngành chính trong chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn năm thứ tư về tôn giáo của tôi đề cập đến một số phương diện của lý thuyết vũ trụ tiến hoá của Issac Luria, một tín đồ Kabbalist (1) vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn động vật học của tôi là một nghiên cứu phân tích chức năng tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài c* li bởi tính cách khiêm nhường của nó - bình thản, im lặng và hướng nội - hình như đã có tác dụng an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi. Có loài c* li hai móng và có loài culi ba móng, phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân sau của tất cả culi đều có ba móng. Tôi có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba…
Chương 42
Cuộc Đời Của PiTác giả: Yann MartelTruyện Phương Tây, Truyện Thám HiểmToronto và Pondicherry Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống trở lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kỳ lạ. Tôi học chương trình phổ thông trung học trong một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai ngành chính trong chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn năm thứ tư về tôn giáo của tôi đề cập đến một số phương diện của lý thuyết vũ trụ tiến hoá của Issac Luria, một tín đồ Kabbalist (1) vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn động vật học của tôi là một nghiên cứu phân tích chức năng tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài c* li bởi tính cách khiêm nhường của nó - bình thản, im lặng và hướng nội - hình như đã có tác dụng an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi. Có loài c* li hai móng và có loài culi ba móng, phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân sau của tất cả culi đều có ba móng. Tôi có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba… Ước mong lớn nhất của tôi – ngoài việc được cứu – là có một cuốn sách. Một cuốn sách dài với một câu chuyện không bao giờ kết thúc. Một cuốn sách tôi có thể đọc đi đọc lại, với những cách nhìn mới, những hiểu biết mới cho mỗi lần. Than ôi, trên xuồng chẳng có cuốn Kinh Thánh nào. Tôi là chàng Arjuna đơn độc trên chiếc chiến xa tơi tả mà không được những lời của thần Krishna an ủi. Lần đầu tiên tôi thấy một cuốn kinh thánh trong ngăng kéo chiếc bàn đầu giường tại một phòng khách sạn ở Canada, tôi đã bật khóc. Tôi gửi tiền đóng góp cho Nhà xuất bản Gideons ngay hôm sau, kèm theo một bức thư tha thiết đề nghị họ mở rộng phạm vi hoạt động tới tất cả những đâu có thể có những kẻ lữ hành mệt mỏi và kiệt sức, chứ không phải chỉ đến các khách sạn, và rằng họ nên có cả các kinh của những tín ngưỡng khác nữa chứ không phải chỉ Kinh Thánh Cơ đốc. Tôi cho đó là cách tốt nhất để rao giảng lòng tin. Không phải những đao to búa lớn từ trên bục giảng, không phải những lời lên án của giáo hội, không phải áp lực đồng đẳng, chỉ cần một cuốn sách thiêng lặng lẽ đợi ta để nói lời chào đón, nhẹ nhàng mà cũng mãnh liệt như nụ hôn của cô gái lên má ta.Chẳng được thế thì có một cuốn tiểu thuyết cũng được! Nhưng chỉ có mỗi cuốn cẩm nang sống sót. Chắc hẳn tôi đã đọc nó hàng nghìn hàng vạn lần trong suốt thời gian khổ nạn của tôi.Tôi có viết nhật kí. Khó lòng đọc được nó. Tôi viết chữ nhỏ hết sức vì sợ sẽ bị hết giấy. Cũng chẳng có chuyện gì nhiều trong đó. Chỉ là một vài chữ vạch lên giấy mong ghi lại một thực tại đã làm tôi choáng ngợp. Tôi bắt đầu viết độ một tuần gì đó sau ngày đắm tàu. Trước đó thì tôi quá bận bịu về quá nhiều thứ khác. Các đoạn nhật kí ấy không có đề ngày hoặc đánh số thứ tự. Điều làm tôi ngạc nhiên khi nhìn lại thời gian đã được ghi lại một cách lạ lùng. Nhiều ngày, nhiều tuần, tất cả chỉ tóm gọn vào một trang giấy. Tôi viết về những thứ mà ai cũng sẽ viết trong hoàn cảnh ấy: những việc xảy ra và cảm giác của tôi, những thứ tôi bắt được và không bắt được, biển cả và thời tiết, các vấn đề gặp phải và các giải pháp, rồi Richard Parker. Toàn những chuyện thực tế cả.
Ước mong lớn nhất của tôi – ngoài việc được cứu – là có một cuốn sách. Một cuốn sách dài với một câu chuyện không bao giờ kết thúc. Một cuốn sách tôi có thể đọc đi đọc lại, với những cách nhìn mới, những hiểu biết mới cho mỗi lần. Than ôi, trên xuồng chẳng có cuốn Kinh Thánh nào. Tôi là chàng Arjuna đơn độc trên chiếc chiến xa tơi tả mà không được những lời của thần Krishna an ủi. Lần đầu tiên tôi thấy một cuốn kinh thánh trong ngăng kéo chiếc bàn đầu giường tại một phòng khách sạn ở Canada, tôi đã bật khóc. Tôi gửi tiền đóng góp cho Nhà xuất bản Gideons ngay hôm sau, kèm theo một bức thư tha thiết đề nghị họ mở rộng phạm vi hoạt động tới tất cả những đâu có thể có những kẻ lữ hành mệt mỏi và kiệt sức, chứ không phải chỉ đến các khách sạn, và rằng họ nên có cả các kinh của những tín ngưỡng khác nữa chứ không phải chỉ Kinh Thánh Cơ đốc. Tôi cho đó là cách tốt nhất để rao giảng lòng tin. Không phải những đao to búa lớn từ trên bục giảng, không phải những lời lên án của giáo hội, không phải áp lực đồng đẳng, chỉ cần một cuốn sách thiêng lặng lẽ đợi ta để nói lời chào đón, nhẹ nhàng mà cũng mãnh liệt như nụ hôn của cô gái lên má ta.
Chẳng được thế thì có một cuốn tiểu thuyết cũng được! Nhưng chỉ có mỗi cuốn cẩm nang sống sót. Chắc hẳn tôi đã đọc nó hàng nghìn hàng vạn lần trong suốt thời gian khổ nạn của tôi.
Tôi có viết nhật kí. Khó lòng đọc được nó. Tôi viết chữ nhỏ hết sức vì sợ sẽ bị hết giấy. Cũng chẳng có chuyện gì nhiều trong đó. Chỉ là một vài chữ vạch lên giấy mong ghi lại một thực tại đã làm tôi choáng ngợp. Tôi bắt đầu viết độ một tuần gì đó sau ngày đắm tàu. Trước đó thì tôi quá bận bịu về quá nhiều thứ khác. Các đoạn nhật kí ấy không có đề ngày hoặc đánh số thứ tự. Điều làm tôi ngạc nhiên khi nhìn lại thời gian đã được ghi lại một cách lạ lùng. Nhiều ngày, nhiều tuần, tất cả chỉ tóm gọn vào một trang giấy. Tôi viết về những thứ mà ai cũng sẽ viết trong hoàn cảnh ấy: những việc xảy ra và cảm giác của tôi, những thứ tôi bắt được và không bắt được, biển cả và thời tiết, các vấn đề gặp phải và các giải pháp, rồi Richard Parker. Toàn những chuyện thực tế cả.
Cuộc Đời Của PiTác giả: Yann MartelTruyện Phương Tây, Truyện Thám HiểmToronto và Pondicherry Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống trở lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kỳ lạ. Tôi học chương trình phổ thông trung học trong một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai ngành chính trong chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn năm thứ tư về tôn giáo của tôi đề cập đến một số phương diện của lý thuyết vũ trụ tiến hoá của Issac Luria, một tín đồ Kabbalist (1) vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn động vật học của tôi là một nghiên cứu phân tích chức năng tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài c* li bởi tính cách khiêm nhường của nó - bình thản, im lặng và hướng nội - hình như đã có tác dụng an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi. Có loài c* li hai móng và có loài culi ba móng, phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân sau của tất cả culi đều có ba móng. Tôi có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba… Ước mong lớn nhất của tôi – ngoài việc được cứu – là có một cuốn sách. Một cuốn sách dài với một câu chuyện không bao giờ kết thúc. Một cuốn sách tôi có thể đọc đi đọc lại, với những cách nhìn mới, những hiểu biết mới cho mỗi lần. Than ôi, trên xuồng chẳng có cuốn Kinh Thánh nào. Tôi là chàng Arjuna đơn độc trên chiếc chiến xa tơi tả mà không được những lời của thần Krishna an ủi. Lần đầu tiên tôi thấy một cuốn kinh thánh trong ngăng kéo chiếc bàn đầu giường tại một phòng khách sạn ở Canada, tôi đã bật khóc. Tôi gửi tiền đóng góp cho Nhà xuất bản Gideons ngay hôm sau, kèm theo một bức thư tha thiết đề nghị họ mở rộng phạm vi hoạt động tới tất cả những đâu có thể có những kẻ lữ hành mệt mỏi và kiệt sức, chứ không phải chỉ đến các khách sạn, và rằng họ nên có cả các kinh của những tín ngưỡng khác nữa chứ không phải chỉ Kinh Thánh Cơ đốc. Tôi cho đó là cách tốt nhất để rao giảng lòng tin. Không phải những đao to búa lớn từ trên bục giảng, không phải những lời lên án của giáo hội, không phải áp lực đồng đẳng, chỉ cần một cuốn sách thiêng lặng lẽ đợi ta để nói lời chào đón, nhẹ nhàng mà cũng mãnh liệt như nụ hôn của cô gái lên má ta.Chẳng được thế thì có một cuốn tiểu thuyết cũng được! Nhưng chỉ có mỗi cuốn cẩm nang sống sót. Chắc hẳn tôi đã đọc nó hàng nghìn hàng vạn lần trong suốt thời gian khổ nạn của tôi.Tôi có viết nhật kí. Khó lòng đọc được nó. Tôi viết chữ nhỏ hết sức vì sợ sẽ bị hết giấy. Cũng chẳng có chuyện gì nhiều trong đó. Chỉ là một vài chữ vạch lên giấy mong ghi lại một thực tại đã làm tôi choáng ngợp. Tôi bắt đầu viết độ một tuần gì đó sau ngày đắm tàu. Trước đó thì tôi quá bận bịu về quá nhiều thứ khác. Các đoạn nhật kí ấy không có đề ngày hoặc đánh số thứ tự. Điều làm tôi ngạc nhiên khi nhìn lại thời gian đã được ghi lại một cách lạ lùng. Nhiều ngày, nhiều tuần, tất cả chỉ tóm gọn vào một trang giấy. Tôi viết về những thứ mà ai cũng sẽ viết trong hoàn cảnh ấy: những việc xảy ra và cảm giác của tôi, những thứ tôi bắt được và không bắt được, biển cả và thời tiết, các vấn đề gặp phải và các giải pháp, rồi Richard Parker. Toàn những chuyện thực tế cả.